
Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Phạm Văn Đồng và Giáo sư Hoàng Minh Giám (thứ 3 từ phải qua) gặp gỡ Việt kiều nhân chuyến sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau, năm 1946. (Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)
“Trợ lý ngoại giao” của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Hoàng Minh Giám (1904-1995) sinh tại Đông Ngạc, Hà Nội, trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Cha ông là Phó bảng Hoàng Tăng Bí, một trong những người tham gia sáng lập phong trào Đông Kinh nghĩa thục.
Ngay từ khi học tại Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương, Hoàng Minh Giám đã tham gia các hoạt động yêu nước. Sau khi tốt nghiệp, ông sang Campuchia giảng dạy, truyền bá tinh thần yêu nước và tình đoàn kết Việt Nam - Campuchia. Chính quyền thực dân Pháp sau đó yêu cầu ông trở về nước.

Ông Hoàng Minh Giám là nhà ngoại giao, từng giữ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội và Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp Các tổ chức Hữu nghị Việt Nam.
Tại Hà Nội, ông tiếp tục nghề dạy học, tham gia hoạt động của giới trí thức tiến bộ và đến năm 1934 trở thành một trong những người tham gia thành lập Trường Tư thục Thăng Long, giữ cương vị Hiệu trưởng.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đưa người thầy giáo ấy bước vào một vai trò hoàn toàn khác.
Ngày 30/8/1945, Hoàng Minh Giám được bổ nhiệm làm Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ. Công việc này giúp ông thường xuyên tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh, tham dự và ghi biên bản các cuộc họp Hội đồng Chính phủ, đồng thời có mặt trong nhiều cuộc tiếp xúc giữa Người với đại diện nước ngoài. Chính trong quá trình đó, năng lực của Hoàng Minh Giám dần được bộc lộ.
Ông có vốn hiểu biết rộng, sử dụng tốt tiếng Pháp, am hiểu văn hóa và đời sống chính trị Pháp, đồng thời có sự nhạy bén trong xử lý công việc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy ở Hoàng Minh Giám những phẩm chất rất phù hợp với công tác ngoại giao. Từ một nhà giáo, ông từng bước trở thành một trong những cộng sự được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin cậy trong hoạt động đối ngoại.
Điều đó thể hiện rõ trong những cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và phía Pháp.
Ngày 15/10/1945, trong cuộc gặp giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Sainteny, đại diện Chính phủ Pháp, Hoàng Minh Giám có mặt. Những cuộc thương lượng sau đó kéo dài trong nhiều tháng, với vấn đề cốt lõi là vị thế của Việt Nam. Việt Nam yêu cầu Pháp công nhận nền độc lập, thống nhất. Trong khi đó, Pháp chỉ muốn công nhận Việt Nam là một quốc gia tự trị và tiếp tục coi Nam Kỳ là thuộc địa.
Đến ngày 6/3/1946, khi nguy cơ chiến tranh trở nên cận kề, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp đặc biệt của Hội đồng Chính phủ để hoàn chỉnh dự thảo văn bản với Pháp. Hoàng Minh Giám được cử làm thư ký. Chiều cùng ngày, tại số 38 phố Lý Thái Tổ, Hiệp định Sơ bộ Việt - Pháp được ký kết.

Lễ ký Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946. Từ trái sang phải: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Hoàng Minh Giám (đang đọc văn bản), Jean Sainteny, Leon Pignon và Luis Caput. (Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)
Trước giờ ký, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Hoàng Minh Giám đọc bản dự thảo bằng tiếng Pháp. Một chi tiết tưởng như thuộc về nghi thức lại cho thấy mức độ tham gia của Hoàng Minh Giám vào quá trình chuẩn bị và xử lý các vấn đề ngoại giao khi đó.
Ông Hoàng Minh Giám đã tham gia khá sâu vào công việc ngoại giao, chứ không đơn thuần làm nhiệm vụ hành chính hay phiên dịch.
Sau Hiệp định Sơ bộ, cuộc đấu tranh ngoại giao tiếp tục diễn ra trong thế giằng co. Ngày 24/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Hoàng Minh Giám, Vũ Đình Huỳnh và Sainteny đi thủy phi cơ ra Hạ Long gặp Cao ủy Đông Dương D’Argenlieu.
Trên chiến hạm Emile Bertin, trong cuộc trao đổi riêng giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và D’Argenlieu, Hoàng Minh Giám là người duy nhất tham dự bên phía Việt Nam. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị sớm tổ chức một hội nghị để đàm phán việc thực hiện Hiệp định Sơ bộ, D’Argenlieu tìm cách trì hoãn.
Hoàng Minh Giám lên tiếng, nhấn mạnh không nên để dư luận Việt Nam mất niềm tin vào thiện chí của Pháp và khả năng tìm kiếm một giải pháp hòa bình, hữu nghị. Cuộc tranh luận cuối cùng dẫn tới việc hai bên thống nhất tổ chức Hội nghị trù bị Việt - Pháp tại Đà Lạt.
Từ những cuộc gặp như vậy, vai trò của Hoàng Minh Giám ngày càng rõ hơn: ông không chỉ đứng cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các cuộc tiếp xúc, mà trực tiếp tham gia vào những vấn đề cốt lõi của thương lượng.
Tháng 6/1946, ông tham gia phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dự Hội nghị Fontainebleau tại Pháp. Tại đây, Hoàng Minh Giám vừa tham gia công việc của phái đoàn, vừa thường xuyên báo cáo tình hình để Chủ tịch Hồ Chí Minh có chỉ đạo kịp thời. Bên ngoài bàn đàm phán, ông tìm cách tiếp xúc, giải thích lập trường của Việt Nam và tranh thủ sự đồng tình của dư luận Pháp.
Ngoại giao khi ấy không chỉ là thương lượng chính thức giữa hai chính phủ. Đó còn là việc giải thích lập trường của Việt Nam, tranh thủ dư luận và tìm kiếm những tiếng nói đồng tình ngay trong xã hội Pháp. Lợi thế của ông không chỉ nằm ở ngoại ngữ mà còn ở vốn hiểu biết về xã hội, văn hóa và đời sống chính trị Pháp.
Khi Hội nghị Fontainebleau bế tắc, phái đoàn Việt Nam trở về nước. Để tiếp tục duy trì kênh liên lạc với Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh cử một phái đoàn đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở lại Paris, do Hoàng Minh Giám làm Trưởng đoàn.
Tháng 11/1946, ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Chỉ một tháng sau, Toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Chiến tranh khiến điều kiện hoạt động ngoại giao thay đổi hoàn toàn.
Hoàng Minh Giám cùng gia đình lên chiến khu. Bộ Ngoại giao hoạt động giữa núi rừng, trong điều kiện liên lạc với bên ngoài vô cùng khó khăn. Ông được bố trí ở nhờ nhà một người giáo viên tại Sơn Dương, Tuyên Quang. Trong sinh hoạt, ông giữ lối sống giản dị, gần gũi với đồng nghiệp và đồng bào địa phương.
Nhưng chiến tranh không khiến hoạt động ngoại giao dừng lại.
Từ cuối tháng 12/1946, Hoàng Minh Giám vẫn có những cuộc tiếp xúc với đại diện Mỹ, Anh, Ấn Độ và Hội Chữ thập đỏ quốc tế, trước hết liên quan tới vấn đề tù binh Pháp. Chính trong một cuộc gặp với đại diện quân sự Anh Wilson gần cầu Đuống vào đầu tháng 5/1947, một đường dây liên lạc đặc biệt được mở ra.
Wilson hỏi Hoàng Minh Giám có biết Paul Mus hay không. Paul Mus, nhà Đông phương học người Pháp và khi đó là cố vấn của Cao ủy Emile Bollaert, đang chờ ở gần đó và muốn gặp ông.
Khi hai người gặp nhau, Paul Mus nói được Bollaert ủy nhiệm chuyển một thông điệp trực tiếp tới Chủ tịch Hồ Chí Minh và muốn được gặp Người. Ông Hoàng Minh Giám sau đó báo cáo sự việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng ý.
Và từ đường dây liên lạc ấy, cuộc gặp lúc 22h ngày 12/5/1947 tại Thái Nguyên được thiết lập. Thị xã lúc đó đã tiêu thổ kháng chiến. Những người bảo vệ phải lựa chọn một căn nhà không còn nguyên vẹn nhưng vẫn còn một gian phòng đủ để tiếp khách.
Trong căn phòng ấy, giữa đêm, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Paul Mus. Phía Pháp đưa ra các điều kiện ngừng bắn, trong đó có việc Việt Nam giao nộp vũ khí, để quân Pháp tự do hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam và trao lại những người nước ngoài đang đứng trong hàng ngũ kháng chiến.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không đáp lại bằng sự đối đầu gay gắt. Người nhắc Paul Mus từng tham gia kháng chiến chống phát xít Đức và hỏi nếu ở địa vị Người, ông có chấp nhận những điều kiện ấy hay không.
Sau đó, cuộc trò chuyện chuyển sang vấn đề hòa bình, quan hệ giữa nhân dân hai nước và lập trường của Việt Nam: mong muốn hòa bình nhưng kiên quyết bảo vệ độc lập, thống nhất.
Với Hoàng Minh Giám, đây không chỉ là một cuộc gặp mà ông được chứng kiến. Ông chính là người giúp đưa thông điệp từ phía Pháp đến Chủ tịch Hồ Chí Minh và tham gia vào quá trình duy trì kênh liên lạc trong lúc chiến tranh đang diễn ra.
Cuộc gặp cho thấy một đặc điểm trong hoạt động ngoại giao của Hoàng Minh Giám: ngay cả khi chiến tranh đã bước vào giai đoạn khốc liệt, ông vẫn tìm cách duy trì đối thoại và xử lý những kênh liên lạc có thể mở ra cơ hội cho hòa bình.
Khi Paul Mus ra về, ông chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh dũng cảm. Người đáp: “Luôn luôn! Tất nhiên!”.
Khoảng 1h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Hoàng Minh Giám lên xe trở về. Đến đèo Khế, trời bắt đầu sáng. Lo máy bay Pháp phát hiện, Người yêu cầu xuống xe và đi bộ tiếp.
Hai ngày sau cuộc gặp, Hoàng Minh Giám viết lại nội dung thông điệp Bollaert gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tối 15/5/1947, Người chủ trì phiên họp Hội đồng Chính phủ và thông báo về cuộc gặp.
Dấu ấn trong nền ngoại giao cách mạng
Sau năm 1950, khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được nhiều nước công nhận, hoạt động đối ngoại bước sang giai đoạn mới. Hoàng Minh Giám tiếp tục tham gia xây dựng ngành ngoại giao, kết hợp hoạt động đối ngoại với quân sự, đối nội với đối ngoại, đồng thời góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ ngoại giao.

Bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Minh Giám đón tiếp đại diện Đảng Cộng sản Pháp Leo Figuene tại Việt Bắc, năm 1950. (Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)
Sau Hiệp định Genève năm 1954, ông chuyển sang làm Bộ trưởng Bộ Văn hóa, tiếp tục tháp tùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhiều chuyến thăm nước ngoài và tham gia các hoạt động hợp tác văn hóa.
Ông là đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VII; từ năm 1976 đến 1981 giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội. Năm 1977, ông trở thành Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp Các tổ chức Hữu nghị Việt Nam.
Dấu ấn của ông nằm trong cả một chuỗi thời điểm đặc biệt: từ những cuộc tiếp xúc đầu tiên với đại diện Pháp, lễ ký Hiệp định Sơ bộ, cuộc trao đổi trên chiến hạm Emile Bertin, những ngày tại Fontainebleau cho đến cuộc gặp bí mật giữa đêm ở Thái Nguyên.
Điểm nổi bật ở Hoàng Minh Giám là sự kết hợp giữa một trí thức có vốn hiểu biết rộng, thông thạo ngoại ngữ, am hiểu văn hóa và chính trị Pháp với một cán bộ có bản lĩnh, sự cẩn trọng và khả năng thích ứng trong những hoàn cảnh đặc biệt.
Từ một nhà giáo, ông bước vào chính quyền cách mạng; từ công việc hành chính, ông trở thành một trong những người đặt nền móng cho ngoại giao cách mạng Việt Nam.
Và trong những năm tháng mà mỗi cuộc gặp, mỗi bức thư hay một đường dây liên lạc đều có thể tác động tới cục diện đất nước, Hoàng Minh Giám đã góp phần giữ cho những cánh cửa đối thoại không bị đóng lại.
Đó có lẽ cũng là một trong những dấu ấn đáng nhớ nhất của người trí thức từng đứng bên Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những cuộc đấu trí ngoại giao đầu tiên của một nước Việt Nam độc lập.




